Bất ngờ từ dinh dưỡng của cám mì

12/09/2019 | 10:15

(Thế Giới Gia Cầm) - Song song với cám, tấm, cám mì là một nguồn thức ăn năng lượng quan trọng trong TĂCN và thủy sản nước ta. Ngoài số lượng cám có được từ công nghiệp bột mì trong nước, cám mì còn được nhập khẩu hàng trăm nghìn tấn hàng năm.

Cám mì là gì?

Cám là lớp bên ngoài của hạt gạo mì lứt (hạt lúa mì) sau khi đập tách vỏ trấu. Tuy nhiên, cám mì được bán để làm thức ăn vật nuôi thường bao gồm cám và bột nghiền của “bổi” qua sàng xát gạo, tức là có gạo bể, mầm, mảnh mày và cả mảnh cuống hạt lúa.

Cám mì tiêu chuẩn có thành phần dinh dưỡng bình quân 89% vật chất khô, 16,5% protein thô, 9,75% xơ thô, 42% NDF, 16% ADF và năng lượng tương đương 91% bắp hạt. Những năm gần đây, nguồn nhập cám mì vào nước ta chủ yếu là Ấn Ðộ, Trung Quốc, Indonesia, Sri Lanka; phần lớn là dạng viên và ít hơn là dạng bột; dinh dưỡng lúc còn mới biến động xung quanh 87% vật chất khô, 15% protein thô, 4% béo thô, 10% xơ thô, 0,6% lysin, 0,27% methionin, 5,3% tro, 0,15% calci, 1,8% phosphor tổng số, năng lượng khoảng 2400 kcal ME/kg ở heo, 2200 kcal ME/kg ở gia cầm  9,8 Mj DE/kg ở đại gia súc và  2750 kcal DE/kg ở cá tra. Tiêu chuẩn chất lượng cám mì được Bộ NN&PTNT quy định: ẩm độ ít hơn 12%, không mùi chua mốc, độc tố aflatoxin không quá 50 ppb.

Cám mì dạng bột và Cám mì dạng viên

 

Sử dụng cho gia súc

Ở các nước ôn đới và những nước khác có trồng lúa mì, cám mì được dùng rất nhiều trong thức ăn đại gia súc, thay thế 40 - 50% bắp hạt hoặc yến mạch trong khẩu phần thức ăn tinh, và đạt lợi nhuận từ hạ giá thành thức ăn trên đơn vị sản phẩm chăn nuôi.

Bê, nghé ăn khẩu phần hỗn hợp có chứa 30% cám mì vẫn đảm bảo sinh lý bình thường, không bị chướng hơi như khi ăn thức ăn hạt, tiêu hóa tốt thức ăn và sinh trưởng tốt.

Cám mì có hàm lượng xơ cao hơn bắp (9,7 so với 2,9%) và tinh bột thấp hơn (27 so với 64%) cho nên bò ăn cám mì ít bị rối loạn tiêu hóa hơn khi ăn bắp. Bản thân chất xơ thì hàm lượng xơ axít (ADF) dễ tiêu hóa của cám mì cũng rất cao hơn bắp: 13,5 so với 3,3%. Cám mì là thức ăn tinh được nhà chăn nuôi bò chăn thả ưu tiên chọn lựa, trước những hỗn hợp tinh hạt + đạm, do đơn giản hơn trong thao tác mà chi phí thức ăn lại tiết kiệm nhiều hơn.

Bò chuyên thịt như Angus nuôi vỗ béo từ 270 lên 320 kg với cỏ khô alfalfa ăn tự do có bổ sung cám mì, ở mức 1,5% thể trọng, có thể đạt tăng trọng cao đến 1.130 g/ngày.

Ðối với bò sữa, ngoài vai trò cung cấp năng lượng và protein cho chức năng tạo sữa thì hàm lượng chất xơ trung tính (NDF) cao của cám mì (32%) còn có tác dụng thỏa mãn nhu cầu làm đầy dạ cỏ để kích thích quá trình tiết sữa. Ở Ấn Ðộ và Thái Lan, năng suất và chất lượng sữa của trâu sữa ăn khẩu phần có cám mì hoặc cám gạo đều tương đương nhau, đồng thời các chỉ tiêu dinh dưỡng cũng tương đồng. Tuy nhiên không nên vượt mức cám mì tối đa 5 kg/bò/ngày.

 

Sử dụng cho heo

Cám mì được sử dụng mức độ ít hơn, chỉ có khả năng thay thế được 36% khối lượng thức ăn hạt trong khẩu phần heo cái chửa và khoảng 27% ở heo nái nuôi con. Heo con và heo choai có thể sử dụng tốt 30% cám mì trong khẩu phần và cũng lợi dụng được những ưu điểm của cám mì đối với vấn đề bệnh lý.

 

Sử dụng cho gia cầm

Gà, vịt đẻ thương phẩm có thể sử dụng khẩu phần ăn có chứa từ 25 - 45% cám mì, đảm bảo tất cả các chỉ tiêu sinh trưởng cũng như năng suất và chất lượng trứng ngang với khẩu phần quy ước bắp + khô dầu nành. Khẩu phần 25% cám mì cho chất lượng trứng tốt hơn khẩu phần quy ước. Khẩu phần 45% cám mì vẫn đảm bảo sinh trưởng và năng suất, chất lượng trứng nhưng tiêu tốn thức ăn cao hơn khẩu phần quy ước (khoảng 2%). Khẩu phần quá nhiều cám mì (ví dụ 89%) vẫn đảm bảo sinh trưởng và chất lượng trứng như khẩu phần 45% cám mì nhưng năng suất trứng sụt giảm rõ.

Cám mì, cũng như các loại thức ăn hạt cốc khác, thường bị “kết tội” là có nhiều đường đa không tinh bột (NSP) gây độ nhờn cao cho thức ăn trong đường ruột tổn hại đến khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng của gia cầm. Tuy nhiên, người ta cũng thường thấy rằng NSP của khô dầu nành còn cao hơn cám mì và vẫn được sử dụng không ít trong thức ăn gia cầm; ví dụ hàm lượng (%) các thành phần NSP của cám mì và khô dầu nành: tổng NSP 8,1 và 17,2; arabinose 1,9 và 2,0; xylose 2,4 và 1,8; mannose 0,2 và 0,6, galactose 0,4 và 2,9; 2,6 và 6,7; axít uronic 0,6 và 2,5. Cellulose là NSP quan trọng nhất của mọi nguyên liệu hạt; trong lúc cellulose của cám mì còn thấp hơn cám gạo. Người ta đã thực nghiệm thấy ở tất cả các loại gia cầm rằng dùng cellulase là đạt hiệu quả cơ bản và cao hơn các NSPase khác.

Thùy Linh (Tổng hợp)

Gửi bình luận

Gửi Làm lại

Giá nông sản

Gà thịt lông màu ĐNB 39.000 đ/kg
Gà chuyên thịt giống 15.000 đ/con
Gà thịt ĐNB 26.000 đ/kg
Gà chuyên trứng giống 13.500 đ/con
Vịt Super-M giống 14.000 đ/con
Vịt thịt Super-M 42.000 - 43.000 đ/kg
Vịt Grimaud giống 20.500 đ/con
Vịt thịt Grimaud 45.000 - 46.000 đ/kg
Xem tất cả

Bình luận mới nhất