Chăn nuôi 2018: Phục hồi nhanh, tăng trưởng tốt

10/01/2019 | 07:17

(Thế Giới Gia Cầm) - Ngành chăn nuôi năm 2018 đã có sự tăng trưởng tốt, duy trì bình quân 5 - 6%/năm, góp phần giữ vững mức tăng trưởng chung cho ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, để phát triển ổn định và bền vững, ngành chăn nuôi cần vượt qua những thách thức nhất định.

Vượt sóng gió

2018 có thể coi là một năm có nhiều thách thức với ngành chăn nuôi Việt Nam khi liên tiếp phải đối diện với vô vàn khó khăn như: Bão giá thịt heo, vấn đề an toàn thực phẩm (chất cấm, Salbutamol, thực phẩm không rõ nguồn gốc); Công tác quản lý giống, thức ăn còn nhiều bất cập… Nhưng tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi luôn thuộc nhóm cao trong khu vực nông nghiệp, duy trì ở mức 5 - 6%/năm, góp phần giữ vững mức tăng trưởng chung cho ngành, đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước và bước đầu có xuất khẩu. Có được thành công này là nhờ sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, sự đồng lòng và chỉ đạo sát sao của Bộ NN&PTNT, Cục Chăn nuôi cũng như cộng đồng doanh nghiệp và người nuôi.

2018 là năm “sóng gió” với ngành chăn nuôi heo Ảnh: Vũ Mưa
2018 là năm “sóng gió” với ngành chăn nuôi heo Ảnh: Vũ Mưa
 

Theo đó, điểm sáng của ngành chăn nuôi năm qua chính là hoàn thành Luật Chăn nuôi được Quốc hội thông qua với nhiều nội dung đổi mới và nhận được đánh giá cao của dư luận; Tích hợp các lĩnh vực liên quan đến sản xuất chăn nuôi, tiếp cận chăn nuôi theo chuỗi khép kín từ thức ăn, giết mổ, chế biến, thị trường để quản lý ngành trong thời kỳ hội nhập; Thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm các điều kiện, thủ tục hành chính tạo thuận lợi doanh nghiệp; Chuyển 90% khối lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi đang lưu hành từ tiền kiểm sang hậu kiểm; Áp dụng tối đa hóa công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước về chăn nuôi, nhất là lĩnh vực thức ăn chăn nuôi, 100% các giao dịch đều được trao đổi trực tuyến; Xã hội hóa tối đa các dịch vụ công, các tổ chức chứng nhận, các phòng thử nghiệm có đủ điều kiện tham gia giảm áp lực biên chế nhà nước và ngân sách

Ổn định thị trường sản xuất chăn nuôi, nhất là ngành hàng thịt heo (giảm xuống 45.000 - 50.000 đồng/kg, người tiêu dùng chấp nhận được và người nuôi có lãi), góp phần giúp ngành chăn nuôi cơ bản đạt các mục tiêu đề ra trong năm 2018 như: Thịt heo tăng 22%, đạt 3,8 triệu tấn; Gia cầm tăng 6,5%, đạt 6,5 triệu tấn; Trứng gia cầm 11,8 tỷ quả, tăng 11%; Sữa 960.000 tấn, tăng 9%. Người chăn nuôi được mùa được giá, doanh nghiệp thắng lợi, tích cực đầu tư phát triển. Kiểm soát được dịch bệnh trong chăn nuôi, năm qua, chăn nuôi không xuất hiện những ổ dịch lớn cùng đó, ngăn chặn Dịch tả heo châu Phi kịp thời. Công tác kiểm soát chất lượng an toàn thực phẩm được đẩy mạnh, không phát hiện chất cấm trong chăn nuôi; Thị trường xuất khẩu có nhiều thành công thể hiện sự trưởng thành của doanh nghiệp và người chăn nuôi đưa các sản phẩm chăn nuôi tới được nhiều thị trường trên thế giới…

 

Tăng trưởng nhiều mặt

Thống kê của Cục Chăn nuôi cho thấy, sản lượng chăn nuôi đạt 5,3 triệu tấn, 11,9 tỷ quả trứng, giá trị ngành chăn nuôi đạt 260.000 tỷ đồng, tăng 5% GDP; Nhiều mô hình chuỗi trong chăn nuôi được hình thành; Thu hút nhiều tập đoàn lớn đầu tư vào chăn nuôi như Dabaco, Ba Huân. C.P, Masan; Từng bước đảm bảo an toàn thực phẩm trong chăn nuôi, tham gia giám sát thành công xử lý chất thải. Năm 2018 cả nước xuất khẩu khoảng 500 - 550 triệu USD sản phẩm chăn nuôi (gồm thịt heo sữa và thịt heo các loại đông lạnh, trứng vịt muối, mật ong, sữa và các sản phẩm từ sữa) và khoảng 400 - 450 triệu USD nguyên liệu và sản phẩm thức ăn chăn nuôi.

Ðàn heo tiếp tục tăng trưởng tốt cả về quy mô đầu con và sản lượng, vượt so kế hoạch năm 2018 đề ra, ước tính trong năm 2018 sản lượng thịt heo hơi đạt trên 3,81 triệu tấn, tăng 2,2% so năm 2017 (kế hoạch năm 2018 là 3,77 triệu tấn, tăng 1% so năm 2017). Tại một số địa phương như Ðồng Nai, Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Nam... sau khi phục hồi kể từ đợt khủng hoảng năm 2017, quy mô chăn nuôi heo đã dịch chuyển sang hướng tập trung công nghiệp, trang trại lớn và hộ chuyên nghiệp (theo số liệu thống kê sơ bộ hiện nay tại tỉnh Ðồng Nai có khoảng 94% tổng đàn heo được nuôi tại trang trại; Số liệu trang trại của tỉnh Thái Nguyên là 789, tăng gần 10% so năm 2017).

Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định, dự tính cả năm 2018 sản lượng thịt gia cầm đạt khoảng 1 triệu tấn, tăng 6,1% so năm 2017. Sản lượng thịt trâu tăng gần 1%, đạt 98,9 nghìn tấn. Sản lượng thịt bò tăng 2%, đạt 350.000 tấn. Tổng đàn dê ước 2,58 triệu con, tăng 25%.

 

Phát triển bền vững

Năm 2019, trong bối cảnh ngành chăn nuôi đang chịu tác động của biến đổi khí hậu, tác động của CPTPP; Ngành chăn nuôi còn có quy mô nhỏ lẻ, dịch bệnh và vấn đề an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát triệt để; Chất lượng sản phẩm chăn nuôi chưa cao; Khả năng cạnh tranh thấp... đòi hỏi ngành chăn nuôi cần có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt hơn.

Vấn đề giải quyết chất thải trong chăn nuôi cũng được chú trọng và nhận được sự quan tâm của cộng đồng người chăn nuôi trong năm qua, nhất là Dự án Khí sinh học do Cục Chăn nuôi, thuộc Bộ NN&PTNT và Tổ chức Hợp tác Phát triển Hà Lan (SNV) thực hiện, tuy nhiên, tính bền vững và khả năng nhân rộng còn nhiều khó khăn. Ông Tống Xuân Chinh, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi cho biết, khó khăn chung của ngành chăn nuôi năm qua chính là vấn đề bão giá đã khiến nhiều hộ chăn nuôi gặp khó cho đầu tư xây dựng các công trình khí sinh học. Bởi, chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm đa số hiện nay nên rất cần được tổ chức và bền vững, hiệu quả hơn; Ðảm bảo môi trường cũng như cung cấp năng lượng tái táo phục vụ sản xuất.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Ðức Tiến nhấn mạnh, khoa học công nghệ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực chăn nuôi, theo đó cần đưa những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, những nghiên cứu khoa học phải gắn liền với thực tiễn sản xuất. Trong đó, việc chuyển giao công nghệ phải thu hút được sự tham gia của các doanh nghiệp FDI, chuyển giao công nghệ từ các viện, trường và nhất là phải đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, thay đổi nhận thức của người chăn nuôi hướng đến chăn nuôi sạch, an toàn và hiệu quả.

>> Từ năm 2005 đến nay sản lượng thịt các loại tăng trên 3 lần (từ 1,6 triệu tấn lên 5,3 triệu tấn); Trứng tăng 3,9 lần (từ 3 tỷ quả lên 11,8 tỷ quả); Sữa tươi tăng 18,6 lần (từ 51.500 tấn lên 960.000 tấn); Thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng gần 4,8 lần (từ 4,3 triệu tấn lên 21,5 triệu tấn).

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến

Cần giải quyết nhiều bất cập

Ngành chăn nuôi năm qua đã có những nỗ lực vượt bậc, đóng góp chung vào giá trị tăng trưởng của ngành nông nghiệp, tuy nhiên vẫn còn những bất cập tồn tại cần quyết liệt tháo gỡ. Năm 2019, chăn nuôi sẽ hội nhập sâu rộng với quốc tế; Chịu tác động của biến đổi khí hậu; Chăn nuôi nhỏ lẻ và vấn đề an toàn dịch bệnh, giá thành sản xuất… Theo đó, ngành chăn nuôi cần tổng kết lại chiến lược phát triển thời gian qua để rút ra những bài học kinh nghiệm; Phối hợp với Cục Thú y, các địa phương quản lý tốt vấn đề dịch bệnh; Cơ cấu lại giống gốc; Xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, ứng dụng thông tin quản trị quản lý ngành; Nghiên cứu đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào chăn nuôi nhằm nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm; Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân…

 

Quyền Cục trưởng Cục Chăn nuôi Nguyễn Xuân Dương

Đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi

Năm 2019 ngành chăn nuôi tiếp tục triển khai các nội dung để đảm bảo mục tiêu phát triển nhanh, mạnh hơn, đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi. Theo đó, cần phải phải hoàn thiện các văn bản pháp quy thực thi Luật Chăn nuôi (2 nghị định, 7 thông tư, tập huấn cho 63 tỉnh, thành); Đánh giá và xây dựng chiến lược chăn nuôi mới đến 2030 tầm nhìn 2040; Xây dựng tái cơ cấu chăn nuôi 2020 - 2025. Tiếp tục phát triển theo chuỗi liên kết tăng cường biện pháp kiểm soát dịch bệnh, nhất là không để Dịch tả heo châu Phi xâm nhập vào Việt Nam. Cùng đó, cần kiểm soát chất lượng vật tư an toàn thực phẩm nghiêm ngặt hơn, nói không với chất cấm, hóa chất công nghiệp để có sản phẩm chăn nuôi chất lượng.

 

Linh Chi

Gửi bình luận

Gửi Làm lại

Giá nông sản

Cá he sông 50 con/kg 50.000 đ
Cá tra 2,0 cm 1.300 đ
cá tra 1,5 cm 1.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 204.000 đ
Cá lóc nuôi tại ao 35.000 đ
Cá thát lát còm 38.000 đ
Cá tra tại ao 26.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 200.000 đ
Xem tất cả