CPTPP: Cơ hội lớn, thách thức nhiều

10/01/2019 | 08:22

(Thế Giới Gia Cầm) - Hiệp định Ðối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực từ ngày 31/12/2018. Ðây là cơ hội để nước ta mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi được dự báo là một trong các ngành hàng dễ bị “tổn thương” trong bối cảnh mới, khi phải đối mặt nhiều thách thức nội tại không nhỏ.

Cơ hội

- Việc tham gia CPTPP sẽ tạo cơ hội cho ngành chăn nuôi Việt Nam dễ dàng tiếp cận các công nghệ chăn nuôi hiện đại từ con giống, thức ăn, trang thiết bị đến kinh nghiệm quản lý, điều hành và quản trị doanh nghiệp của các quốc gia trong khối.


Ngày 18/3/2018, đại diện 11 nước đã ký CPTPP tại Chilê, Mỹ không có mặt trong CPTPP
Ảnh: The Kootneeti

 

- Việt Nam sẽ có thêm nhiều cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi công nghệ cao…

- Ngành chăn nuôi có cơ hội để mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm thịt, trứng, sữa. Các điều khoản và điều kiện được nêu trong CPTPP tạo ra một khuôn khổ thương mại cho phép tiếp cận thị trường lớn hơn giữa các quốc gia thành viên.

- Tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia chuỗi giá trị trong nội khối và toàn cầu về sản xuất con giống, sữa và thiết bị chăn nuôi, do trong khối CPTPP có các công ty đa quốc gia về các lĩnh vực này. Qua đó sẽ giúp Việt Nam sẽ hạn chế được sự phụ thuộc vào một khu vực hay một thị trường như trước đây.

- Giúp Việt Nam hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp FDI; Ngành chăn nuôi chịu sức ép buộc phải thúc đẩy nhanh Ðề án tái cơ cấu theo hướng hiện đại, bền vững.

 

Thách thức

- Sản phẩm ngành chăn nuôi nước ta có sức cạnh tranh thấp do phần lớn sản xuất quy mô nhỏ, năng suất chưa cao, phụ thuộc nhiều vào giống và thức ăn nhập khẩu. Hậu quả có thể là tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ chậm lại khi CPTPP được thực thi đầy đủ.

- Dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường là những thách thức không nhỏ. Nguy cơ và rủi ro lớn nhất đối với ngành chăn nuôi nước ta là dịch bệnh. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi dù đã được kiểm tra giám sát triển khai rất tích cực của các cơ quan chức năng, nhưng vẫn chưa được xử lý triệt để. Số lượng nhà máy giết mổ hiện đại, đạt tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm dù không nhiều nhưng lại hoạt động cầm chừng do chi phí giết mổ cao, không cạnh tranh nổi với lò mổ thủ công. Công nghệ chế biến bảo quản thịt sau giết mổ còn yếu, các phương tiện vận chuyển thịt sau giết mổ và các quầy bán thịt, sản phẩm chăn nuôi tại chợ đa số chưa đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Cạnh tranh gay gắt ngay trong thị trường nội địa với các sản phẩm chăn nuôi nhập khẩu. Sản phẩm chăn nuôi nhập khẩu từ một số nước như Australia, Canada, Mexico, Malaysia có nguy cơ gia tăng khi thuế nhập khẩu giảm xuống 0% theo lộ trình của CPTPP, hậu quả là nhiều doanh nghiệp và hộ nông dân chăn nuôi Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trầm trọng. Mức thuế trung bình thịt nhập khẩu khoảng 15% sẽ được giảm xuống 0% trong 4 - 10 năm tới sẽ tạo cơ hội cho người tiêu dùng và nhà nhập khẩu tiếp cận với các sản phẩm rẻ hơn, nhưng các nhà sản xuất và xuất khẩu trong nước sẽ bị ảnh hưởng nặng vì họ sẽ không thể cạnh tranh với dòng nhập khẩu từ các quốc gia khác. Trong ngắn hạn, do phần lớn người Việt có thói quen tiêu dùng thịt tươi, ấm nhiều hơn thịt đông lạnh, có thể làm chậm tác động CPTPP đối với các nhà sản xuất trong nước. Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, khi thịt đông lạnh sẽ được chấp nhận rộng rãi, sản xuất trong nước sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với các sản phẩm thịt từ các nước CPTPP.

- Các thị trường của khối nổi tiếng “khó tính” như: Nhật Bản, Australia, New Zeland, Chilê, Singapore… có hàng rào kỹ thuật yêu cầu tương đối cao đối với sản phẩm chăn nuôi từ các nước khác. Trong bối cảnh đó, ngành chăn nuôi nước ta cần vượt qua được các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp kiểm dịch vệ sinh, an toàn thực phẩm. 

 

Cách nào để tận dụng cơ hội?

Hoàn thiện thể chế, chính sách

Ðể tham gia CPTPP, Việt Nam cần việc cải cách mạnh mẽ, đặc biệt là cải cách thể chế với cam kết hội nhập. Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam chính là cải cách thể chế. Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ, ngành cùng tiếp tục triển khai việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật cần thiết để thực thi các cam kết của Hiệp định CPTPP. Trước mắt cần sửa đổi, bổ sung 12 văn bản, gồm: 8 luật, 4 nghị định của Chính phủ. Kiến nghị ban hành mới 7 văn bản, gồm: 6 nghị định của Chính phủ, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Kiến nghị gia nhập 3 điều ước quốc tế. Trong quá trình thực hiện Hiệp định, đồng thời sẽ tiếp tục rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, nếu phát sinh văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung sẽ có kiến nghị để sửa đổi, bổ sung kịp thời.

Tiếp tục xây dựng một Chính phủ kiến tạo; Ðẩy mạnh cải cách và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong xuất nhập khẩu giống, vật tư chăn nuôi, bãi bỏ quy định danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất kinh doanh; Tạo sự liên thông giữa các Bộ, ngành để nâng cao tính cạnh tranh của môi trường kinh doanh, thúc đẩy kết nối và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài.

Cần rà soát lại các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định hành chính liên quan đến lĩnh vực chăn nuôi không còn phù hợp. Ðổi mới công tác quản lý ngành theo kiểu hành chính, mệnh lệnh sang quản lý theo luật hóa và tiêu chuẩn hóa và tăng cường hậu kiểm thay vì tiền kiểm như hiện nay, nhất là trong lĩnh vực quản lý thức ăn chăn nuôi, giống vật nuôi. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh các chính sách về đất đai, về đầu tư, về phát triển trang trại, chính sách thuế, chính sách giống vật nuôi. Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư công nghệ cao, hiện đại trong chăn nuôi. Ðổi mới cơ chế chính sách được kỳ vọng tạo nguồn lực nhằm tạo ra bước đột phá mới trong phát triển chăn nuôi nước ta.

Rà soát và thực hiện đúng quy hoạch chăn nuôi

Rà soát, điều chỉnh và nâng cao chất lượng quy hoạch gắn với nghiên cứu thị trường, đảm bảo tính khả thi và tuân thủ quy hoạch, từng bước hạn chế việc sản xuất theo phong trào, tự phát dẫn đến tình trạng được mùa rớt giá. Ðã đến lúc cần rà soát một cách tổng thể quy hoạch phát triển chăn nuôi gắn với chế biến. Ðể ngành chăn nuôi phát triển ổn định, có chiều sâu, cũng cần rà soát và quy hoạch lại đất đai. Theo đó, cần quy định rõ vùng khuyến khích chăn nuôi, vùng hạn chế chăn nuôi và vùng cấm chăn nuôi hoàn toàn. Có chính sách thu hút đầu tư ở các khu vực khuyến khích sản xuất chăn nuôi; Xác định được quy mô phát triển cho từng vùng miền và từng địa phương trong trung hạn cũng như dài hạn, đảm bảo về môi trường. Rà soát điều chỉnh hạn chế mở mới các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp; Ðiều chỉnh lại cơ cấu chất lượng đàn giống, phương thức chăn nuôi phù hợp với từng phân khúc thị trường. Cần chú trọng đầu tư phát triển các sản phẩm mà các địa phương có lợi thế, xây dựng thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm. Trong trung hạn cũng như dài hạn, Việt Nam phải xây dựng được vùng an toàn dịch bệnh để hướng tới xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi ra thị trường thế giới ngày càng nhiều hơn.

Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị

Trên cơ sở rà soát lại quy hoạch chăn nuôi trên phạm vi toàn quốc phù hợp với quy định của Luật Chăn nuôi đã được ban hành, cần tổ chức lại sản xuất chăn nuôi theo các chuỗi liên kết từ cung cấp đầu vào cho sản xuất đến chế biến, tiêu thụ là giải pháp quan trọng để phát triển chăn nuôi bền vững. Bên cạnh đó, khuyến khích hình thức chăn nuôi theo hợp đồng giữa các doanh nghiệp, chủ trang trại lớn có điều kiện về vốn, tiêu thụ sản phẩm liên kết với các gia trại, trang trại nhỏ hơn. Cần sửa đổi chính sách liên kết sản xuất nông sản theo hợp đồng, trong đó xây dựng các chính sách liên kết đủ mạnh để giải quyết vấn đề phá vỡ hợp đồng. Nhà nước cần đóng vai trò trung gian để hỗ trợ, trọng tài, tạo dựng lòng tin cho các bên tham gia chuỗi liên kết.

Tiếp tục đầu tư cho công tác nghiên cứu, phát triển giống vật nuôi và áp dụng khoa học công nghệ

Tiếp tục thực hiện Chương trình giống vật nuôi quốc gia để đảm bảo tính liên tục, tập trung vào những giống vật nuôi chủ lực là heo, gia cầm, bò sữa, bò thịt. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, ứng dụng giống vật nuôi có năng suất và chất lượng tốt, ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất. Ưu tiên chọn tạo các giống vật nuôi bản địa có ưu thế phục vụ cho phương thức chăn nuôi khác nhau nhằm tạo ra các sản phẩm chăn nuôi có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Xây dựng chính sách mới về hỗ trợ các cơ sở nuôi giữ giống gốc theo hướng thị trường, trong đó có cơ chế hỗ trợ bình đẳng giữa cơ sở nhà nước và các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế khác. Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất là yếu tố quyết định để có sản phẩm chất lượng cao, nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững.

Tăng cường vai trò của các doanh nghiệp và tổ chức xã hội nghề nghiệp

Cách tiếp cận về quản lý nhà nước trong sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn thể hiện tính bao cấp và “bao sân” của Nhà nước, chưa thấy vai trò và bóng dáng của các tổ chức xã hội nghề nghiệp trong quá trình giám sát, quản lý quá trình sản xuất, chế biến giết mổ và tiêu thụ trên thị trường. Vì vậy đã đến lúc cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận quản lý nhà nước đối với lĩnh vực nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng phù hợp với thông lệ quốc tế. Theo đó, một số hoạt động mang tính dịch vụ như đánh giá điều kiện sản xuất, cấp chứng nhận chất lượng sản phẩm con giống, thức ăn và vật tư khác phục vụ chăn nuôi nên để các hiệp hội ngành nghề tương ứng đảm nhận thay vì các cơ quan quản lý nhà nước “bao sân” như hiện nay.

Với việc tham gia CPTPP, doanh nghiệp chăn nuôi và người nông dân Việt sẽ bị cạnh tranh gay gắt hơn nữa ngay trên chính “sân nhà”. Vì vậy các doanh nghiệp và người chăn nuôi phải hiểu, phải biết kết nối để tận dụng lợi thế, cần hiểu luật chơi quốc tế và phải hiểu về các thay đổi chính sách tương ứng, nắm bắt thông tin, nâng cao năng lực, quản trị kinh doanh, học hỏi và cả năng lực pháp lý để tự bảo vệ mình; Có tư duy sáng tạo, đổi mới và sự nhạy bén trong kinh doanh, có kế hoạch xây dựng thương hiệu hay uy tín và chất lượng, chủ động trong tiếp cận thị trường để làm ăn quy mô và dài hạn trong tương lai.

“Các doanh nghiệp sẽ không thể ứng dụng thành công công nghệ 4.0 nếu như các cơ quan Chính phủ vẫn đang vận hành theo công nghệ 1.0”.

 

TS. Nguyễn Thanh Sơn

Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Việt Nam

Gửi bình luận

Gửi Làm lại

Giá nông sản

Cá he sông 50 con/kg 50.000 đ
Cá tra 2,0 cm 1.300 đ
cá tra 1,5 cm 1.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 204.000 đ
Cá lóc nuôi tại ao 35.000 đ
Cá thát lát còm 38.000 đ
Cá tra tại ao 26.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 200.000 đ
Xem tất cả