::

Dịch tả heo châu Phi

15/10/2018 | 03:26

(Thế Giới Gia Cầm) - Bệnh Dịch tả heo châu Phi (African swine fever - ASF) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do virus gây ra. Bệnh lây lan nhanh và xảy ra ở mọi loài heo, mọi lứa tuổi, gây thiệt hại nghiêm trọng với tỷ lệ chết cao lên đến 100%. Heo khỏi bệnh có khả năng mang virus trong thời gian dài, có thể là vật chủ mang trùng suốt đời, do vậy khó có thể loại trừ được bệnh nếu xảy ra.

Nguyên nhân

Virus ASF có gen di truyền dạng AND, có vỏ bọc dạng Icoxahedral, kích thước lớn. Virus có 1 serotype, nhưng phát hiện có tới 16 genotypes và nhiều chủng khác nhau có độc lực khác nhau. Virus được tìm thấy trong máu, cơ quan, dịch bài tiết từ heo nhiễm bệnh và chết bởi bệnh này. Virus có khả năng chịu được nhiệt độ thấp, đặc biệt là trong các sản phẩm thịt heo sống hoặc nấu ở nhiệt độ không cao nên virus có thể chịu được trong thời gian 3 - 6 tháng, bị tiêu diệt ở nhiệt độ 560C trong 70 phút hoặc ở 600C trong 20 phút. Virus sống trong máu đã phân hủy được 15 tuần, trong máu khô không được 70 ngày, trong phân ở nhiệt độ phòng được 11 ngày, trong máu heo ở nhiệt độ 400C trong 18 tháng, trong thịt dính xương ở nhiệt độ 390C được 150 ngày, trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 500C tồn tại trong 3 giờ. Ngoài ra, ve mềm thuộc chi Ornithodoros là một vector sinh học trong tự nhiên.

Trong môi trường không có huyết thanh, virus có thể bị phá hủy ở pH < 3,9 hoặc ở pH > 11,5. Môi trường có huyết thanh, virus có thể tồn tại được pH = 13,4 trong 7 ngày, không có huyết thanh virus có thể sống được 21 giờ.

Hóa chất diệt virus ASF bao gồm ether, chloroform hoặc hợp chất iodine hoặc sử dụng Sodium hydroxide với 8/1.000 hoặc formalin với tỷ lệ 3/1.000 hoặc chất tẩy trắng hypochlorite chứa chlorine 2,3% hoặc chất ortho - phenylphenol 3% nhưng phải duy trì thời gian 30 phút.

Sơ đồ lây truyền bệnh ASF Nguồn: Imgcop
Sơ đồ lây truyền bệnh ASF          Nguồn: Imgcop

Ðặc điểm

Thời gian ủ bệnh khoảng 3 - 15 ngày, ở thể cấp tính thời gian ủ bệnh chỉ 3 - 4 ngày.

Virus lây nhiễm qua đường hô hấp và tiêu hóa, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với các vật thể nhiễm virus như: Chuồng trại, phương tiện vận chuyển, dụng cụ, đồ dùng, quần áo nhiễm virus và ăn thức ăn thừa chứa thịt heo nhiễm bệnh hoặc ve mềm cắn.

 

Triệu chứng

Bệnh có nhiều triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Heo có các biểu hiện không khác biệt nhiều so với triệu chứng của bệnh dịch tả heo cổ điển.

Thể quá cấp tính: Heo sẽ chết nhanh, không biểu hiện triệu chứng hoặc heo sẽ nằm và sốt cao trước khi chết

Thể cấp tính: Do virus có độc lực cao gây ra, heo sốt cao (40,5 - 420C). Trong 2 - 3 ngày đầu tiên, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu. Heo không ăn, lười vận động, ủ rũ, nằm chồng đống, thích nằm chỗ có bóng râm hoặc gần nước. Heo có biểu hiện đau vùng bụng, lưng cong, di chuyển bất thường. Một số vùng da trắng chuyển sang màu đỏ, đặc biệt là ở vành tai, đuôi, cẳng chân, da phần dưới vùng ngực và bụng, có thể có màu sẫm xanh tím.

Trong 1 - 2 ngày trước khi con vật chết, có triệu chứng thần kinh, di chuyển không vững, nhịp tim nhanh, thở gấp, khó thở hoặc có bọt lẫn máu ở mũi, viêm mắt, nôn mửa, tiêu chảy đôi khi lẫn máu hoặc có thể táo bón, phân cứng đóng viên có kích thước nhỏ, có chất nhầy và máu. Heo sẽ chết trong vòng 6 - 13 hoặc 20 ngày. Heo mang thai có thể sảy thai ở mọi giai đoạn. Tỷ lệ chết cao lên tới 100%. Heo khỏi bệnh hoặc nhiễm virus thể mãn tính thường không có triệu chứng, nhưng chúng sẽ là vật chủ mang virus ASF trong suốt cuộc đời.

Thể á cấp tính: Chủ yếu được tìm thấy ở châu Âu, heo biểu hiện triệu chứng không nghiêm trọng. Chúng sốt nhẹ hoặc sốt lúc tăng lúc giảm, giảm ăn, sụt cân, ủ rũ viêm toàn bộ phổi nên khó thở, ho có đờm, phổi có thể bội nhiễm vi khuẩn kế phát, viêm khớp, vận động khó khăn. Bệnh kéo dài 5 - 30 ngày, nếu máu ứ trong tim (cấp tính hoặc suy tim) thì heo có thể chết, heo mang thai sẽ sảy thai, heo chết trong vòng 15 - 45 ngày, tỷ lệ chết khoảng 30 - 70%. Heo có thể khỏi hoặc bị bệnh mãn tính.

Thể mãn tính: Heo có nhiều triệu chứng khác nhau, chẳng hạn như giảm cân, sốt không ổn định, có triệu chứng hô hấp, hoại tử da hoặc viêm loét da mãn tính, viêm khớp, viêm cơ tim, viêm phổi dính sườn, viêm các khớp khác nhau trong giai đoạn phát triển. Triệu chứng kéo dài 2 - 15 tháng, có tỷ lệ tử vong thấp, heo khỏi bệnh sau khi nhiễm virus gây bệnh sẽ trở thành dạng mãn tính.

 

Bệnh tích

Thể cấp tính: Xuất huyết nhiều ở các hạch lympho ở dạ dày, gan và thận. Thận có xuất huyết điểm, lá lách to có nhồi huyết. Da có màu tối và phù nề, da vùng bụng và chân có xuất huyết. Có nhiều nước xung quanh tim và trong xoang ngực hoặc xoang bụng, có các điểm xuất huyết trên nắp thanh quản, bàng quang và bề mặt các cơ quan bên trong; Phù nề trong cấu trúc hạch lâm ba của đại tràng và phần tiếp giáp với túi mật, túi mật sưng.

Thể mãn tính: Có thể gặp xơ cứng phổi hoặc có các ổ hoại tử hạch, hạch phổi sưng viêm dính màng phổi.

Chẩn đoán

Chẩn đoán phân biệt: Các bệnh cần được chẩn đoán gồm: Bệnh tai xanh (PRRS), đặc biệt là thể cấp tính, bệnh đóng dấu heo, bệnh phó thương hàn, tụ huyết trùng, liên cầu khuẩn do Streptococus suis, bệnh Glasser, bệnh ký sinh trùng đường máu do Trypanosoma gây ra, hội chứng viêm da sưng thận do PCV2, bệnh giả dại ở heo choai và bị ngộ độc muối.

Lấy mẫu xét nghiệm: Lấy mẫu máu heo đang sốt trong giai đoạn đầu, máu được chống đông bằng bổ sung EDTA 0,5% hoặc Heparin.

Lách, các hạch bạch huyết, hạch amidan bảo quản ở nhiệt độ 40C.

Huyết thanh từ động vật khỏi bệnh, lấy mẫu trong vòng 8 - 21 ngày sau khi heo nhiễm bệnh.

Xét nghiệm phát hiện virus: Sử dụng tế bào monocytes sơ cấp của heo hoặc tế bào tủy xương.

Phát hiện kháng nguyên bằng phương pháp Fluorescent antibody test (FAT) kết quả dương tính của FAT cùng với các triệu chứng và các tổn thương có thể sơ bộ xác định bệnh.

Ngoài ra còn có các phương phương pháp như: Phương pháp PCR, tiêm động vật thí nghiệm (không khuyến cáo sử dụng vì nguy cơ lây lan bệnh cao); Kiểm tra huyết thanh bằng kỹ thuật ELISA hoặc IFA.

 

Phòng trị bệnh

Hiện chưa có vaccine và thuốc điều trị, bởi vậy, giải pháp phòng bệnh là chính. Cần phát hiện và xử lý triệt để ổ dịch ngay từ khi ở phạm vi nhỏ và chưa lây lan. Các biện pháp chủ yếu như kiểm dịch nhập khẩu, kiểm soát vận chuyển heo và an toàn sinh học được nhiều nước đã và đang áp dụng.


 

Năm 1921, bệnh ASF lần đầu tiên xuất hiện tại Kenya, châu Phi, sau đó đã trở thành dịch địa phương tại nhiều nước châu Phi. Năm 1957, lần đầu tiên bệnh ASF được phát hiện và báo cáo tại châu Âu, đến nay đã xuất hiện ở nhiều nước châu Âu, trong đó có Armenia, Liên bang Nga. Từ cuối năm 2017 đến nay, 12 quốc gia gồm Trung Quốc, Liên bang Nga, Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hungari, Latvia, Moldova, Phần Lan, Rumami, Nam Phi, Ukraina và Zambia báo cáo có ASF.

Ông Philippe Gréau, Chuyên gia về heo của Pháp tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Việt Nam cần quyết liệt trong việc phòng chống ASF

ASF được phát hiện ca đầu tiên tại Kenya (châu Phi) năm 1920, sau đó lan rộng sang các nước châu Âu khoảng những năm 1950 và được loại bỏ trong khoảng thập niên 90 và quay trở lại châu Âu từ năm 2007 đến nay. Hiện tại dịch đã lây lan sang thị trường chăn nuôi heo lớn nhất thế giới là Trung Quốc. Tức là sau gần 100 năm phát hiện ca nhiễm đầu tiên (1920), đến nay thế giới vẫn chưa có vaccine phòng và cũng không có cách điều trị, khi bị bệnh phải duy nhất là tiêu hủy toàn bộ.
Có rất nhiều lý do hiện nay chưa sản xuất thành công vaccine ASF, trong đó có 3 nguyên nhân chính. Đầu tiên, họ afivirus ASF có tới 22 type khác nhau. Do cấu trúc của nó là virus lớn hơn nhiều virus bình thường. Bên cạnh đó, cũng có thể do yếu tố thị trường (thị trường không đủ rộng để các nhà sản xuất vaccine quyết tâm đầu tư nghiên cứu bào chế vaccine) bởi bệnh chỉ xuất hiện mạnh ở các năm 2014, 2015, 2016, 2017… tại một số nước, như Nga, Phần Lan, Ukraina, Slovakia, nên các nhà khoa học chưa nghiên cứu ra vaccine. Hiện dịch ASF đang bùng phát tại Trung Quốc, đến nay đã công bố phát hiện ổ dịch thứ 13, nhiều phòng nghiên cứu, nhà khoa học đã vào cuộc và hy vọng sẽ sản xuất ra vaccine trong thời gian tới. Tuy nhiên, theo đúng quy trình phải mất ít nhất 2 - 3 hoặc 5 năm nữa mới có lô vaccine đầu tiên bán ra thị trường. Vì vậy Chính phủ Việt Nam cần có biện pháp can thiệp kịp thời, cứng rắn, quyết liệt và cương quyết trong việc phòng chống ASF, bởi nguy cơ lây lan, đặc biệt là từ Trung Quốc vào Việt Nam đang ở mức rất cao.

 

 

Cục Thú Y

Gửi bình luận

Gửi Làm lại

Giá nông sản

Cá he sông 50 con/kg 50.000 đ
Cá tra 2,0 cm 1.300 đ
cá tra 1,5 cm 1.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 204.000 đ
Cá lóc nuôi tại ao 35.000 đ
Cá thát lát còm 38.000 đ
Cá tra tại ao 26.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 200.000 đ
Xem tất cả