Tập trung ổn định thị trường

10/01/2019 | 07:34

(Thế Giới Gia Cầm) - “Nhiệm vụ trọng tâm của ngành chăn nuôi gia cầm năm 2019 là tập trung phát triển theo chuỗi liên kết, dần loại bỏ các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ. Ðồng thời tập trung ổn định thị trường, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, hướng tới xuất khẩu”, đó là chia sẻ của ông Nguyễn Văn Ngọc (ảnh), Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Ðông Nam bộ với Tạp chí Thế giới Gia cầm.

Trong năm 2018, Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng với nhiều cơ hội lẫn thách thức, theo ông ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã có những chuyển biến gì?

Sau thời gian gặp khó khăn vì bị cạnh tranh gay gắt với thịt gia cầm đông lạnh nhập khẩu, hiện nay hoạt động chăn nuôi gia cầm, nhất là nuôi gà đã sôi động trở lại. Bộ NN&PTNT đánh giá, đó là kết quả của quá trình chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung theo trang trại; Duy trì chăn nuôi nông hộ nhưng theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao, ngăn ngừa dịch bệnh.

Chăn nuôi 2018 được đánh giá là một trong những năm được giá, các sản phẩm lớn của ngành chăn nuôi ra đời và tăng trưởng mạnh. Nếu chăn nuôi heo đạt 3,8 triệu tấn, tăng 0,9% thì chăn nuôi gia cầm đạt 1,1 triệu tấn, tăng 6,5%; Trứng đạt 11,5 tỷ quả, tăng 11%.

Ước năm 2018, xuất khẩu khoảng 500 - 550 triệu USD sản phẩm chăn nuôi gồm thịt heo sữa các loại đông lạnh, trứng vịt muối, mật ong, sữa và các sản phẩm từ sữa; Khoảng 400 - 450 triệu USD nguyên liệu và sản phẩm thức ăn chăn nuôi.


Hiện hoạt động chăn nuôi gia cầm đã sôi động trở lại Ảnh: Lượng Huệ
 

Còn những thách thức của ngành trong năm 2018 và năm 2019 thì sao, thưa ông?

Thách thức trong năm 2018 và sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2019 đối với ngành chăn nuôi gia cầm nước ta vẫn là cạnh tranh khốc liệt với nguồn thịt ngoại nhập giá rẻ, nhất là thịt gà từ Mỹ, Hàn Quốc, Brazil…

Trong quá trình hội nhập, ngành chăn nuôi gia cầm Việt đang phải đối mặt với những thách thức lớn về năng suất và chất lượng thịt, trứng vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới; Giá thành sản phẩm thịt, trứng sản xuất trong nước cao hơn so thế giới; Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thịt, trứng gia cầm chưa được kiểm soát; Dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái phát.

Ðặc biệt khi các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia như FTA Việt Nam - EU, CPTPP… với những quy định khắt khe về vùng an toàn dịch bệnh, hàng rào kỹ thuật yêu cầu tương đối cao đối với sản phẩm chăn nuôi từ các nước khác. Trong khi hiện nay, Việt Nam mới có 50 vùng (cấp quận) và 1.092 cơ sở được công nhận an toàn dịch bệnh, những con số còn quá thấp so với yêu cầu đặt ra.

Ngoài ra, vấn đề đầu tư cho khoa học công nghệ cũng chưa thỏa đáng; Vốn đầu tư cho chăn nuôi nói chung và riêng với gia cầm hạn hẹp, lãi suất cao, khó tiếp cận; Cơ chế chính sách huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển chăn nuôi chưa được thông thoáng, chưa tạo môi trường thuận lợi, chưa có ưu đãi cần thiết cho các nhà đầu tư.

 

Khủng hoảng ngành chăn nuôi gia cầm nhiều năm qua vẫn luôn là bài toán cung - cầu, thiếu đầu ra ổn định. Vậy đâu sẽ là giải pháp cho ngành chăn nuôi gia cầm nước ta trong thời gian tới? 

Ngành chăn nuôi cần tiếp tục nhân rộng mô hình thực hành chăn nuôi theo chuỗi liên kết (giữa doanh nghiệp với trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác...) giúp truy xuất nguồn gốc. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư áp dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học nhằm sản xuất nhanh các loại hóa chất, chế phẩm sinh học làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, từng bước thay thế nguồn nguyên liệu nhập khẩu, nhằm giảm giá thành, từ đó tăng sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu.

Trong thời gian tới, cần định hướng phát triển chăn nuôi gia cầm theo hai nhóm: Nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu thị trường và phát triển các đặc sản đặc hữu. Theo đó, giải pháp đặt ra là cần tập trung tổ chức lại sản xuất, mô hình sản xuất theo chuỗi; Xem xét lại các mô hình chăn nuôi gia công có sự giám sát chặt chẽ, tránh gây thiệt hại, rủi ro cho người chăn nuôi và đảm bảo vệ sinh môi trường, đồng thời thúc đẩy các loại hình sản xuất khác gắn với doanh nghiệp và hợp tác xã. Các đơn vị nghiên cứu khoa học cần kết nối chặt chẽ hơn nữa với các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ nuôi, theo hình thức liên kết “4 nhà” kịp thời hỗ trợ chăn nuôi hiệu quả hơn, trước mắt cung ứng nguồn giống chất lượng tốt, ổn định.

 

Hiện, Việt Nam đã xuất khẩu được thịt gà chế biến sang Nhật Bản, thịt heo sữa đông lạnh sang Malaysia, trứng vịt muối, trứng cút sang Singapore, Australia... tuy nhiên sản lượng và giá trị xuất khẩu còn quá thấp. Theo ông làm sao để tăng sức cho xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi trong thời gian tới?

Với tốc độ phát triển chăn nuôi như hiện nay, nước ta hoàn toàn có thể xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi sang các thị trường tiềm năng để tăng giá trị kim ngạch cho nông nghiệp. Ngành chăn nuôi hiện không còn lo về năng suất và sản lượng thịt nhưng năng lực chế biến và kết nối thị trường là khâu yếu nhất của ngành. Do đó, cần phải đẩy mạnh sản xuất chế biến theo chuỗi với công nghệ tiên tiến để khắc phục điểm yếu này.

Mặt khác, cần đẩy mạnh công tác tiếp thị, mở rộng, tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi. Nếu tìm kiếm được thị trường, sản xuất theo đơn đặt hàng, đầu ra ổn định, thì khâu tổ chức sản xuất các loại sản phẩm chăn nuôi theo hướng đặc sản, hữu cơ sẽ thuận lợi.

Muốn ngành chăn nuôi phát triển được, phải tiến tới xuất khẩu, trong đó cần xây dựng các chuỗi liên kết và giá thành chăn nuôi ít nhất phải bằng giá trong khu vực, an toàn dịch bệnh. Chuỗi giá trị sản phẩm xuất khẩu phải đảm bảo từ khâu chăn nuôi, sản xuất, chế biến, truy xuất nguồn gốc… cho đến cung ứng sản phẩm ra thị trường tiêu thụ. Khi làm tốt chuỗi liên kết, sản phẩm chất lượng thì chắc chắn thị trường sẽ gia tăng nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi nước ta.

“Ứng dụng công nghệ kỹ thuật, kết hợp chuỗi liên kết là giải pháp bền vững để phát triển chăn nuôi nói chung và gia cầm nói riêng trong thời kỳ hội nhập”, ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Gia cầm Ðông Nam bộ chia sẻ.

 

Quang Huy (Thực hiện)

Gửi bình luận

Gửi Làm lại

Giá nông sản

Cá he sông 50 con/kg 50.000 đ
Cá tra 2,0 cm 1.300 đ
cá tra 1,5 cm 1.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 204.000 đ
Cá lóc nuôi tại ao 35.000 đ
Cá thát lát còm 38.000 đ
Cá tra tại ao 26.500 đ
Tôm càng xanh tại ao 200.000 đ
Xem tất cả